Chương 454: Sau khi sư phụ chết, ta đã phát điên 454
Tô Tân Niên thua, bị tiểu sư đệ giăng bẫy.
Cố Bạch Thủy đốt quá nửa Dạ Thành Trường An, đêm đó đột phá Thánh Nhân, thắng ván cờ.
Nhưng thật ra.
Khi Cố Bạch Thủy ngồi trên tường thành Trường An, nhìn ngàn vạn tia nhân quả Thánh Nhân hội tụ vào trong cơ thể, hắn không hề nghĩ tới ván cờ của Nhị sư huynh hay đám lông đỏ lộn xộn kia.
Hắn nghĩ tới... Sư phụ họ Lư.
Sư phụ thích kinh Phật, giỏi giảng Phật pháp,
Sư phụ tôn trọng Thần Tú, quen thuộc Thần Tú, nhưng lại không thích Thần Tú.
Quan trọng hơn là, lão già đó thích trồng cây, sau khi chết tự chôn mình dưới một gốc cây già.
Cố Bạch Thủy đoán.
"Cây kia, chắc là cây bồ đề."
Cuối cùng, lão còn tặng cho Cố Bạch Thủy một tấm gương, là Cực Đạo Đế Binh của Thần Tú.
Một tấm gương tên là "Minh Kính".
Minh Kính ư.
Cố Bạch Thủy cười khổ bất đắc dĩ.
Nhiều manh mối như vậy chồng chất, khiến hắn muốn tìm một khả năng khác, không cách nào thuyết phục được chính mình.
Vì thế khi Cố Bạch Thủy bước xuống tường thành Trường An, hắn có phần thẫn thờ , cũng có phần hoang mang.
"Vì sao Nhị sư huynh nghĩ mãi mà không ra?"
Cố Bạch Thủy hơi ngẩng đầu, nhìn màn đêm dày đặc và ánh trăng sáng tỏ, trong lòng nhớ lại dung mạo tươi cười của một ông lão.
"Bồ Đề vốn chẳng cây, Minh Kính không đài"
"Xưa nay không một vật, Nơi nao vướng trần ai"
"Sư phụ ở rất lâu rất lâu trước kia, cũng từng làm hòa thượng một thời gian."
-
Sư phụ và Thần Tú, chắc là sư huynh đệ đồng môn trong một ngôi chùa.
Cũng có thể nói một cách chính xác hơn.
Hủ hủ và Thần Tú của hơn hai mươi vạn năm trước, kỳ thực là quan hệ sư huynh và sư đệ.
...
Trước khi Thần Tú chứng đạo Đế Tôn, vẫn luôn lấy danh xưng Thần Tú.
Ngài sinh ra vào thời Thịnh Đường, mang họ Lý, thuở nhỏ học kinh sử, bác học đa văn.
Thần Tú từ nhỏ đã thông minh, lại có tuệ căn Phật tính, tính tình khoáng đạt trầm ổn, ôn hòa tùy tính.
Ngài tu cũng là chính thống Phật kinh, căn cơ thâm hậu, ngộ tính siêu phàm.
Còn về tư chất tu hành...
Có thể đạo Phật song tu, lại một đường tu hành đến cảnh giới siêu thoát Đại Đế, thiết nghĩ không cần nhiều lời tô vẽ.
Khiêm tốn mà không khoa trương.
Thần Nông Đế tử và Hiên Viên Đế tử, ở phương diện tư chất tu hànhvốn dĩ không có tư cách xách giày cho Thần Tú Đế Tôn.
Ở thời đại Thần Tú còn trẻ, không hề có danh tự hay bóng dáng của Hủ Mục.
Hơn nữa điều khoa trương hơn cả là, Thần Tú không phải độc nhất vô nhị.
Ngài còn có một sư đệ, xuất thân tuy không chính thống, nhưng nhiều khi lại chói sáng hơn cả Thần Tú.
Tuệ Năng.
Đây là pháp danh mà Hủ Mục đã dùng trước khi xuất thế.
Thân thế Tuệ Năng so với Thần Tú bi thảm bần khổ hơn nhiều.
Theo cổ tịch ghi chép.
Tuệ Năng ba tuổi tang phụ, lớn hơn chút nữa, liền dựa vào việc bán củi để phụng dưỡng mẹ già, vất vả sống qua ngày.
Sau khi bái nhập Phật môn, Tuệ Năng triển lộ ngộ tính và tuệ căn siêu thoát thế nhân.
Hắn không có nhiều tích lũy đạo kinh Phật điển, con đường tu hành tham ngộ vừa lệch lạc vừa hoang dã, nhưng hết lần này tới lần khác ở một số thời điểm còn cao hơn Thần Tú một bậc.
Đoạn cố sự kinh điển nhất, chính là Thần Tú cùng Tuệ Năng làm kệ luận kinh.
(Làm thơ luận Phật kinh, bốn câu là một kệ.)
Thần Tú nói: "Thân thị bồ đề thụ, Tâm như minh kính đài, Thời thời cần phất thức, Vật sử nhạ trần ai." (Thân là cây bồ đề, Tâm như đài gương sáng, Luôn luôn cần lau chùi, Chớ để dính bụi trần.)
Thích nghĩa là:
Tu thân như cây bồ đề, tâm cảnh phải như đài gương sáng.
Luôn luôn không ngừng lau chùi mặt gương, không để nó bị bụi bặm ô nhiễm, che lấp bản tính quang minh.
Mà Tuệ Năng làm kệ là:
"Bồ đề bổn vô thụ, Minh kính diệc phi đài, Bổn lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai." (Bồ đề vốn không cây, Gương sáng cũng chẳng phải đài, Xưa nay không một vật, Nơi nào dính bụi trần.)
Thích nghĩa là:
Bồ đề là trí tuệ của bản ngã.
Gương sáng là tâm thanh tịnh của ngươi và ta.
Nếu vốn đã thanh tịnh, làm sao lại nhiễm bụi trần?
Cuộc tranh luận này thoạt nhìn Tuệ Năng cao minh hơn, càng được chùa chiền tán thưởng tán dương.
Nhưng có lẽ bởi vì "Mộc tú vu lâm, phong tất tồi chi; Hành cao vu nhân, chúng tất phi chi" (Cây cao hơn rừng, gió ắt thổi gãy; Hành vi cao hơn người, ắt bị gièm pha).
Việc làm kệ này ngược lại đã mang đến tai họa không đáng có cho Tuệ Năng.
Khi đó trong nội bộ các tự viện Phật giáo, cạnh tranh địa vị tông tổ vô cùng kịch liệt.
Tuệ Năng là một kẻ ngoại lai không chính thống, tất nhiên cũng nhiều lần bị bài xích, thậm chí gặp nguy hiểm.
Cuối cùng ẩn tích trong đám thợ săn, ẩn cư suốt mười lăm năm.
Cũng bởi vì vậy, hai vị sư huynh đệ đồng môn, đã đi trên hai con đường hoàn toàn khác biệt.